Thứ Hai, 1 tháng 1, 2001

4 tác dụng tuyệt vời và “thời điểm vàng” để ăn sữa chua

Sữa chua thực chất là sữa bò tươi hoặc sữa được pha theo công thức sữa tươi cho lên men với các chủng vi khuẩn có lợi cho đường ruột (Lactobacillus bulgaricus và Streptococus thermophilus).

Quá trình chủ yếu xảy ra trong lên men sữa chua là đường Lactoza chuyển thành đường glucoza, sau đó các đường đơn này chuyển thành axit Piruvic, rồi chuyển thành axit lactic.

Sữa chua có giá trị dinh dưỡng cao, chứa đầy đủ các chất protein (với nhiều axit amin cần thiết, nhất là Lysin), Glucid, Lipid, các muối khoáng (nhất là canxi) và vitamin, chủ yếu là vitamin nhóm B và A. Cái quý của sữa chua là ngoài giá trị dinh dưỡng còn có giá trị chữa bệnh tốt, nhất là các bệnh về đường ruột.

1. Cung cấp một lượng lớn các vi khuẩn có lợi

Sữa chua cung cấp cho cơ thể một lượng lớn các vi khuẩn có lợi (Lactobacillus Acidophilus và Bifido Bacterium), giảm bảo vệ hệ tiêu hóa, tăng cường sức đề kháng. Có một số vi khuẩn trong sữa chua còn tạo ra kháng sinh có khả năng diệt các vi khuẩn có hại trong ruột.

Sữa chua đặc biệt thích hợp với người già, trẻ em, người mới ốm dậy, nhất là những người mắc bệnh về tiêu hóa.

2. Cân bằng hệ vi khuẩn trong ruột

Sữa chua rất có hiệu quả trong việc lập lại cân bằng hệ vi khuẩn trong ruột nhất là trong trường hợp lạm dụng hoặc sử dụng kháng sinh không đúng. Kháng sinh sẽ làm mất cân bằng hệ vi khuẩn trong ruột nên cơ thể rất dễ nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, việc bổ sung cần được tiến hành ngay đợt sử dụng kháng sinh, chứ không phải trong khi dung kháng sinh vì kháng sinh và men vi sinh hoặc sữa chua sẽ “công nhau”. Trong khi kháng sinh đang tìm cách tiêu diệt vi khuẩn thì men vi sinh lại làm việc ngược lại là cung cấp thêm lợi khuẩn cho đường ruột, làm cản trở quá trình tiêu diệt vi khuẩn của kháng sinh.

3. Cải thiện sình hơi, đầy bụng

Đối với người bị đau dạ dày thường phải dùng thuốc kháng axit nên vi khuẩn sinh hơi sẽ dồn lên, làm bụng trở nên ấm ách rất khó chịu. Nếu ăn sữa chua trong trường hợp này giúp cho bụng hết sình hơi, ấm ách là nhờ khí được đẩy xuống và tính axit được phục hồi.

4. Giảm chứng biếng ăn, tiêu chảy

Với người bị tiêu chảy hoặc biếng ăn, ăn sữa chua sẽ lập lại cân bằng vi khuẩn ở ruột và chất kháng sinh lactocidine có trong sữa chua giúp việc điều trị tiêu chảy. Sữa chua dễ tiêu hóa nên rất phù hợp với trẻ biếng ăn. Một nghiên cứu gần đây cho thấy, cơ thể hấp thu sữa chua gấp 3 lần sữa tươi.

Ăn thế nào cho tốt?

Chỉ nên ăn sữa chua sau bữa ăn, bởi các vi khuẩn có lợi trong sữa chua tồn tại ở điều kiện độ pH lớn hơn hoặc bằng 4,5. Khi đói, độ pH trong dạ dày chỉ bằng 2, do đó nếu ăn sữa chua lúc này thì các vi khuẩn có lợi trong sữa chua bị tiêu diệt. Sau khi ăn, dạ dày co bóp mạnh, độ pH tăng lên, đó chính là môi trường tuyệt vời để các vi khuẩn có lợi trong sữa chua hoạt động tốt.

Bảo quản sữa chua trong tủ lạnh sau khi mua về, tốt nhất sử dụng sữa chua trong vòng 1 tuần sau khi mua.

Khi mua cần xem kỹ hạn sử dụng của sản phẩm in trên bao bì để đảm bảo có thể sử dụng sữa chua một cách an toàn trong nhiều ngày.

Thanh Loan

Tác dụng của chanh đào, cách ngâm chanh đào mật ong đường phèn trị ho

BS.Chuyên khoa I Bùi Văn Phao - Nguyên Giám đốc BV Y học Cổ truyền Nam Định cho biết: Việt Nam có khoảng 20 loài chanh khác nhau, trong đó giống chanh đào là một “thần dược” rất được ưa chuộng. Chanh đào thường có từ tháng 8, 9 trong năm. Mật ong cùng với chanh đào từ lâu đã là bài thuốc quý được lưu truyền trong dân gian do tính hiệu quả của nó đối với các bệnh về hô hấp.

Theo BS. Bùi Văn Phao, chanh đào hay chanh thường đều có thể làm thuốc trị nhiều bệnh.

Vỏ và lá chanh chứa nhiều tinh dầu, được dùng để trị ho, cảm cúm, hạ sốt… nên thường có trong thành phần của nồi nước lá xông.

Ruột quả chanh chứa nhiều vitamin A, B1, B2, đặc biệt là vitamin C, có tác dụng giải nhiệt, lợi tiểu, kháng viêm, tiêu độc… Ngoài ra, ruột quả chanh chứa hàm lượng đáng kể acid xi-tric (khoảng 8% khối lượng khô) nên rất có tác dụng phòng trị ho, khàn tiếng.

Tuy nhiên, BS Bùi Văn Phao khuyến cáo: đối với những người đã bị ho nặng, ho do nhiễm vi trùng, vi khuẩn dùng riêng chanh cũng không hiệu quả mà cần điều trị theo phác đồ có kháng sinh. Đặc biệt khi sử dụng chanh, bạn nên lưu ý khi bị đi ngoài, trướng bụng tránh dùng. Chanh kích thích tiết tân dịch nên có thể khiến tình trạng đau bụng, tiêu chảy nặng hơn. Việc lạm dụng chanh ngâm mật ong để trị ho cũng gây tác hại cho đường tiêu hóa.

Quả chanh đào

Cách chọn chanh đào ngon:

BS Bùi Văn Phao cho biết, chúng ta nên mua chanh đào tốt nhất vào tháng 9 và tháng 10, khi chanh đào đã vào chính vụ, giá cả không chỉ rẻ hơn mà chất lượng quả cũng cao hơn, quả chanh to và đẹp hơn rất nhiều so với đầu mùa. Không nên mua chanh vào cuối vụ, khi đó giá chanh sẽ đắt hơn, chất lượng cũng kém hơn.

Khi chọn, nên chọn những quả chanh đào chín, vỏ mỏng, có màu vàng hanh và nhất định phải thật tươi mới có chứa nhiều tinh dầu ở vỏ. Thông thường, ruột chanh đào phải có màu hồng đào, nhưng cũng có một số quả ruột lại mang màu vàng nghệ. Chúng ta nên chọn chanh đào tùy vào mục đích sử dụng.

Nếu chọn mua chanh đào để ngâm mật ong, ngâm muối (ngâm cả quả) làm thuốc chữa các bệnh về hô hấp nên chọn những quả chanh tươi, già, vỏ căng mịn, khi cắt ra thấy ruột đỏ hồng đào, kích cỡ tầm 20 quả/kg. Chú ý, không nên chọn những quả chanh quá to, vì chanh thường quý nhất ở tinh dầu trong vỏ và hạt chanh để chữa các bệnh về hô hấp.

Nguyên liệu để ngâm chanh đào với mật ong:

- 1kg chanh đào, chọn quả hơi già, vỏ chanh bóng, ruột hồng, lựa những quả tươi, chín vàng, mỏng vỏ

- 1 lít mật ong rừng

- 0,8kg đường phèn

- Bình thủy tinh

- Vỉ nén bằng nan tre

Đường phèn đập nhỏ, đổ một lớp đường vào lọ, đến một lớp chanh, 1 lớp đường, 1 lớp chanh.

Cách ngâm chanh đào mật ong:

Bước 1: Chanh rửa sạch, pha một ít muối với nước sôi để nguội, ngâm 30 phút rồi vớt chanh ra để thật khô. Nếu chưa đủ độ khô, lấy 1 cái khăn sạch và khô, lau kỹ từng quả chanh. Lưu ý là lúc làm, tay, thớt, dao phải thật khô không dính nước lã. Cắt chanh thành những miếng mỏng, ngâm cả hạt mới tốt.

Bước 2: Đường phèn đập nhỏ, đổ một lớp đường vào lọ, đến một lớp chanh, 1 lớp đường, 1 lớp chanh. Cứ thế cho đến khi hết chanh. Trừ những cục đường to để cho lên trên cùng.

Bước 3: Cuối cùng đổ mật ong vào, lấy vỉ nan nén chanh xuống, đậy kín nắp, để khoảng 3 tháng sẽ dùng được.

Lưu ý: Thời gian đầu mới ngâm nên kiểm tra bình thường xuyên, nếu sau vài ngày thấy sủi bọt thì hớt đi. Không để chanh nổi lên khỏi vỉ vì sẽ dễ bị mốc, nổi váng. Nên ngâm chanh càng lâu càng tốt, mới đầu chanh còn tươi thì ăn hơi đắng, nhưng sau một thời gian dài chanh đào ăn như ô mai, vừa tốt cho họng, vừa tăng cường sức khỏe.

Đổ mật ong vào chanh đào

Yêu cầu thành phẩm:

- Chanh đào mật ong có vị thơm của gừng, mật ong, vị chua vừa phải chứ không gắt, không bị đắng.

- Dung dịch chỉ sánh nhẹ, có màu vàng trong, không nổi bọt

- Sau khi ngâm để ở nhiệt độ bình thường, đến lúc đường tan hết, miếng chanh chìm hẳn không nổi nữa chúng ta có thể cất ở tủ lạnh, dùng dần.

Chanh đào mật ong có vị thơm của gừng, mật ong, vị chua vừa phải chứ không gắt, không bị đắng.

Cách sử dụng:

- Sau khi chanh đã ngấm mật ong, đường phèn tan hết, có thể giữ nguyên lọ để dùng cho người lớn. Nếu muốn dùng cho trẻ nhỏ, bạn có thể vớt chanh ra, ép lọc hạt qua rây, sau đó cho vào máy xay nghiền nhuyễn phần chanh, rồi trộn đều với phần dung dịch đã thu được thành một hỗn hợp sánh.

- Chanh đào mật ong có thể sử dụng cho trẻ từ trên 1 tuổi để phòng hoặc chữa ho do nhiễm lạnh. Nếu để phòng, bạn có thể cho trẻ dùng mỗi sớm 1-2 thìa cà phê đã hâm ấm. Khi trẻ bị ho do nhiễm lạnh, có thể dùng 3-4 lần mỗi ngày, mỗi lần 1-2 thìa ấm.

- Người lớn cũng có thể dùng hàng ngày hoặc khi bị ho với liều lượng khoảng 3-4 thìa cà phê mỗi lần./.

Thanh Loan (ghi)

Tại sao trẻ cần ăn bổ sung từ tháng thứ 6 ?

Ăn bổ sung là hình thức bổ sung thêm thức ăn khác cho trẻ ngoài sữa mẹ. Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới, thời điểm cho trẻ ăn bổ sung (ăn sam, ăn dặm) là khi trẻ tròn 6 tháng tuổi (180 ngày). Sau giai đoạn này, do nhu cầu dinh dưỡng của trẻ tăng cao, sữa mẹ không đáp ứng đủ vì vậy cần bổ sung thêm thức ăn cho trẻ.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn nhiều bà mẹ có quan niệm sai lầm rằng cho trẻ ăn bổ sung sớm, trẻ sẽ cứng cáp hơn và trẻ không bị đói. Vì vậy nhiều trẻ được ăn bổ sung từ tháng thứ 4, 5 thậm chí cũng không ít trường hợp còn được ăn bổ sung từ tháng tuổi thứ 3. Điều này đã ảnh hưởng đến việc tận dụng nguồn sữa mẹ, trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa dẫn đến suy dinh dưỡng. Đặc biệt một số bà mẹ ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn cho trẻ ăn cơm nhai, cơm mớm rất mất vệ sinh, thậm chí còn là nguồn lây lan truyền bệnh cho trẻ.

Cần cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, trẻ ăn bổ sung sớm sẽ làm tăng gánh nặng cho bộ máy tiêu hóa, ảnh hưởng đến tiêu hóa, sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Thức ăn bổ sung thường khó tiêu, nên bé sẽ biếng ăn. Không đủ chất dinh dưỡng, bé sẽ chậm tăng cân và dễ bị suy dinh dưỡng. Đối với trẻ em thì chế độ ăn bổ sung từ tháng thứ 6 trở đi được tuần tự từ các thức ăn lỏng như sữa, chuyển sang bột loãng, bột đặc rồi cháo và cơm.

Trẻ cần ăn bổ sung từ tháng thứ 6

Ngược lại, khi cho trẻ ăn bổ sung quá muộn, lúc này sữa mẹ sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu thì trẻ sẽ chậm tăng cân. Vì sữa mẹ sau 6 tháng không thể đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng ngày càng tăng lên của trẻ, nên cần phải cho trẻ ăn thêm thức ăn bổ sung. Ngoài việc bú sữa mẹ, trẻ cần được ăn thêm từ 1-2 bữa bột trong một ngày.

BS. Tiến Thành

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Những vị thuốc quý từ quả nhót

Lá nhót chứa tanin, saponosid, polyphenol.

Theo YHCT, quả nhót có vị chua, chát, tính bình, vào các kinh phế đại tràng, có tác dụng chỉ ho, trừ đờm, bình suyễn, chỉ tả. Lá có vị chát có tác dụng chỉ ho, bình suyễn, giảm sốt.

Nhân hạt nhót có tác dụng sát khuẩn, trị giun sán. Rễ có tác dụng cầm máu, giảm đau, thường dùng dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng lẻ hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng hằng ngày: quả 8 - 12g (5 - 7 quả khô), lá tươi 20 - 30g, lá và rễ (khô) 12 - 16g. Dùng ngoài dưới dạng nước tắm, rửa mụn nhọt, không kể liều lượng.

Theo các thực nghiệm về sinh học, lá nhót có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều chủng vi khuẩn gram dương và gram âm; đặc biệt đối với các chủng trực khuẩn lỵ: Shigella dysenteria, Shigella shiga, Shigella flexneri, Shigella sonnei. Trên động vật thí nghiệm, lá nhót có tác dụng chống viêm cấp và mạn tính; tác dụng tăng cường sức co bóp của tử cung.

Nhót chín đỏ ngọt lịm

Các dược liệu từ nhót thường được dùng trị một số chứng bệnh sau đây:

Trị lỵ trực khuẩn và bệnh tiêu chảy, viêm đại tràng mạn tính:

Lấy 20 - 30g lá nhót tươi hoặc 6 - 12g lá nhót khô, sao vàng, sắc với 400ml nước còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày, trước các bữa ăn 1,5 giờ. Có thể uống liền 1 - 2 tuần đến khi hết các triệu chứng. Hoặc dùng dưới dạng bột khô lá nhót, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 12g, uống với nước cơm; hoặc phối hợp đồng lượng với bột của vỏ cây đỗ trọng nam. Lưu ý: khi uống cần kiêng các thức ăn tanh, lạnh: cá cua, ốc, ếch...

Trị ho, nhiều đờm, hen suyễn:

Lá nhót 16g sao vàng, lá táo ta (táo chua) 12g sao vàng; hạt cải củ, hạt cải bẹ, mỗi thứ 6g, sao vàng, giã giập. Hạt cải củ, cải bẹ gói vào miếng vải sạch, cho vào cùng sắc nước với lá nhót và lá táo. Sắc 2 - 3 lần, gộp dịch nước sắc lại, chia 3 lần uống trong ngày trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 2 - 3 tuần đến khi các triệu chứng thuyên giảm.

Nhót xanh dầm muối ớt là món khoái khẩu với những người ăn đồ chua

Trị ho, hen, khó thở:

Có thể dùng quả nhót 6 - 12g/ngày, dưới dạng thuốc sắc, thuốc hãm, hay thuốc bột. Uống nhiều ngày, tới khi các triệu chứng thuyên giảm.

Trị ho ra máu, hoặc nôn ra máu, chảy máu cam:

Rễ nhót 16g sao đen, sắc uống ngày một thang. Có thể phối hợp với cỏ nhọ nồi, ngải diệp, trắc bách diệp. Tất cả đều sao đen, sắc uống ngày một thang, chia 3 lần uống trước bữa ăn 1,5 giờ. Trong khi uống thuốc, cần kiêng các thứ cay nóng: rượu, bia, ớt...

Quả nhót, lá nhót, hạt nhót đều có thẻ dùng làm thuốc

Kiêng kỵ: Lá và rễ nhót không dùng cho phụ nữ có thai.

Khi sử dụng nhót, cần tránh nhầm lẫn với vị thuốc nhót tây, còn gọi nhót Nhật Bản, hay tỳ bà diệp. Nhót tây mọc hoang và được trồng ở nhiều ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội... Nhót tây cao tới 6 - 8m. Lá mọc so le, hình mác, có răng cưa, dài 12 - 30cm, rộng 3 - 8cm, phía mặt dưới của lá có rất nhiều lông màu xám hay vàng nhạt. Đây là đặc điểm nổi bật để phân biệt với nhót. Lá nhót tây cũng được sử dụng để trị ho, hen.

GS. TS. Phạm Xuân Sinh

12 loại thực phẩm không nên bảo quản cùng nhau

Hãy áp dụng những mẹo nhỏ dưới đây để giữ rau quả luôn được tươi ngon.

Dưa chuột bảo quản riêng

Rất nhiều loại trái cây, ví dụ như chuối, cà chua và dưa gang sản sinh ra khí ethylene – chất khí có thể làm chín rau quả và làm rau quả dễ bị hư hỏng hơn. Dưa chuột lại là loại quả rất nhạy cảm với khí ethylene, bởi vậy dưa chuột cần được bảo quản riêng, nếu không, chúng sẽ hư hỏng rất nhanh. Bạn nên bảo quản dưa chuột trên những ngăn cao của tủ lạnh, thay vì để dưa chuột trong những ngăn đựng rau quả của tủ lạnh phía dưới thấp cùng với các loại trái cây sinh ra khí ethylene.

Bảo quản thảo mộc….như bảo quản hoa tươi

Bạn đang muốn cắt giảm lượng muối trong chế độ ăn hay chỉ đơn giản là muốn tăng thêm hương vị cho các món ăn ngày Tết, việc sử dụng thảo mộc là một cách tốt, nhưng bạn đừng cho các loại thảo mộc vào túi nilon rồi…quẳng vào tủ lạnh nhé! Hãy bảo quản các loại thảo mộc như bảo quản hoa tươi!

Đầu tiên, hãy rửa sạch sau đó lau thật khô phần lá. Sau đó, cắm phần gốc của các loại rau thảo mộc vào một cốc nước hoặc một bình nước (giống như cắm hoa), sau đó mới cho vào tủ lạnh.

Đa số các loại thảo mộc, rau gia vị đều có thể bảo quản được bằng cách này. Tuy vậy, có một số loại rau sẽ cần được bảo quản bằng cách khác đặc biệt hơn. Ví dụ như rau hung quế sẽ cần được treo ở trên cao với nhiệt dộ phòng. Bạn cũng có thể bảo quản húng quế bằng cách cắm vào nước nhưng cần thay nước thường xuyên nếu nước bị nhớt. Cách bảo quản này có thể giữ các loại thảo mộc, rau gia vị tươi ngon trong vòng 2 tuần.

Không bảo quản bí ngô với táo và lê

Bí ngô, bí đỏ thường có thể bảo quản được trong một thời gian rất giày, nhưng táo, lê và các loại trái cây mùa thu khác không nên được bảo quản cùng với bí bởi chúng sẽ khiến bí đổi màu vàng và nhanh hỏng hơn. Bí có thể được bảo quản trong khoảng từ 10-13 độ C, tức là chỉ thấp hơn nhiệt độ phòng một chút nhưng không cần thiết phải lạnh như ở trong tủ lạnh. Các trái bí to có thể bảo quản được trong 6 tháng, nhưng bạn nên chú ý tới các trái bí nhỏ vì chúng chỉ thường bảo quản được trong 3 tháng mà thôi.

Các loại rau củ có thể cho vào trong túi

Các loại rau củ phát triển từ phần rễ của cây ví dụ như cà rốt, khoai mỡ, củ cải đỏ và hành là một số ví dụ về các loại rau củ giàu dinh dưỡng chúng ta có thể ăn bởi chúng hấp thu hầu hết chất dinh dưỡng từ đất. Để bảo quản những loại rau củ này, hãy để chúng ở nơi thoáng mát, tối và ẩm. Lý tưởng nhất là để dưới hầm, nhưng không phải gia đình nào cũng có hầm để bảo quản chúng như vậy.

Do vậy, cách tốt nhất là cho những loại rau củ này vào một chiếc túi nhựa (túi nilon) cùng với một tờ giấy và lưu trữ trong ngăn đựng rau quả trong tủ lạnh. Nếu bạn cứ quẳng những loại rau củ này vào tủ lạnh, kể cả đã bảo quản ở ngăn đựng rau thì chúng cũng sẽ mềm hơn và hỏng rất nhanh.

Ngâm các loại quả mọng

Các loại quả mọng, ví dụ như trái cây họ dâu là những loại trái cây có vị ngọt thanh và rất dễ ăn. Nhưng vấn đề là chúng lại rất dễ bị mốc nếu không được bảo quản đúng cách. Nguyên nhân là do các bào tử nấm mốc bé xíu tồn tại trên các khe, kẽ rất nhỏ của những loại quả này mà chúng ta không thể rửa rạch được.

Để bảo quản những loại quả mọng này, điều đầu tiên bạn cần nhớ đó là chỉ rửa chúng trước khi ăn, còn nếu bạn chưa ăn, thì chưa cần phải rửa bởi hơi ẩm từ nước sẽ là môi trường lý tưởng để nấm mốc phát triển. Còn nếu nhà bạn có cả một thùng việt quất và bạn không thể ăn hết ngay trong vài ngày thì làm thế nào để bảo quản?

Hãy dành một chút thời gian để ngâm lượng quả này trong một chậu nước được pha với tỷ lệ 3 nước: 1 giấm. Hãy ngâm nhẹ nhàng, sau đó vớt ra để ráo nước. Giấm sẽ có tác dụng ngăn không cho các bào tử nấm phát triển.

Nhưng bạn cũng cần lưu ý những loại quả mọng thường không bảo quản được lâu nếu có hơi nước, do vậy, hãy chắc chắn rằng sau khi ngâm, bạn đã lau chúng thật khô: đặt quả ở trên một tấm khăn hoặc giấy để nước được thấm hết. Sau đó, bạn có thể bỏ các loại quả mọng vào một chiếc hộp đựng có lỗ thông gió hoặc để mở hé nắp hộp trong trường hợp hộp không có lỗ thông gió.

Tách riêng táo và cam

Táo và cam có vẻ là đôi bạn thân nhưng hai loại trái cây này không nên được bảo quản cùng nhau trong tủ lạnh, lý do cũng giống như dưa chuột, đó là do khí ethylene. Do vậy, bạn nên bảo quản táo riêng ở một ngăn trong tủ lạnh để có thể bảo quản được lâu hơn. Với cam, bạn nên cho vào túi lưới và để trong tủ lạnh (không bảo quản cùng táo). Túi lưới sẽ giúp không khí

Tách riêng từng quả chuối

Để cả nải chuối trông sẽ đẹp mắt hơn, đặc biệt là trong những ngày Tết, nhưng vấn đề là nếu để cả nải thì cả nải chuối sẽ chín cùng một lúc và bạn thì lại không thể ăn hết ngay cả nải chuối được. Giải pháp là, hãy chia nhỏ nải chuối ra. Tách ra vài quả chuối để bày lên đĩa hoa quả mà bạn sẽ ăn ngay, phần chuối còn lại bạn có thể bảo quản trong tủ lạnh để làm chậm quá trình chín.

Nếu một vài quả chuối đã bắt đầu chín trứng cuốc, bạn có thể bóc vỏ và sử dụng những quả chuối này để làm kem chuối hoặc làm mặt nạ chuối – cũng rất tốt cho làn da khô nẻ của bạn trong mùa đông.

Không để lẫn hành và khoai tây

Khoai tây rán và hành khô là sự phối hợp tuyệt vời nhưng bạn không nên bảo quản chúng với nhau trước khi chế biến vì hành có thể sẽ làm khoai tây nhanh bị hỏng hơn. Tốt nhất, bạn nên bảo quản khoai tây và bí ngô trong các loại thùng/sọt đan bằng sợi gai ở nơi thoáng mát và tối để giữ bí và khoai tây tươi ngon. Bạn cũng có thể cho chúng vào túi nilon nhưng hãy đảm bảo rằng chúng được đựng trong ngăn có ít độ ẩm hoặc ở ngăn nướ không thể ngưng tụ được bởi hơi ẩm sẽ làm bí và khoai chín nhanh hơn. Về phía hành, bạn có thể bảo quản cùng tỏi ở nơi thoáng khí và cố gắng giữ tỏi nguyên vỏ cho đến khi được sử dụng.

Trái bơ chín bảo quản cùng chuối

Theo một khảo sát đầu năm trên tạp chí Today`s Dietitian thì trái bơ là loại trái cây đứng thứ 2 trong danh sách 10 siêu thực phẩm cho năm 2017. Vì trái bơ là một loại trái cây rất đắt tiền, do vậy việc bảo quản trái bơ đúng cách là một điều vô cùng quan trọng. Nếu trái bơ của bạn chưa chín lắm, bạn có thể bảo quản bơ cùng với chuối. Khí giải phóng ra từ chuối có thể sẽ giúp trái bơ của bạn nhanh chín hơn. Nếu bạn cần bảo quản bơ được lâu, bạn nên bảo quản bơ trong tủ lạnh để làm chậm quá trình chín của trái bơ. Nếu bạn chỉ muốn cắt ra vài lát bơ mà không ăn cả quả, bạn có thể để phần còn lại của trái bơ cùng vớt hạt bơ còn nguyên trong một chiếc hộp kín cùng với một miếng hành tây.

Không để cà chua trong tủ lạnh

Cà chua không những có màu sắc bắt mắt mà cũng rất ngon và giàu dinh dưỡng nữa, nhưng nếu cà chua được bảo quản quá lâu trong tủ lạnh thì sẽ bị mềm và vị sẽ bị nhạt hơn rất nhiều. Cà chua chỉ nên được bảo quản trong tủ lạnh trong vòng 2-3 ngày nhưng nếu bạn đã cắt miếng cà chua hay bất cứ loại trái cây và rau xanh nào thì bạn nên bảo quản trong tủ lạnh để tránh vi khuẩn. Tuy nhiên, nếu muốn bảo quản cà chua được lâu, bạn nên để cà chua ở nhiệt độ phòng thì sẽ giữ được nhiều hương vị của cà chua hơn, ví dụ như để cà chua ở bàn bếp.

Để ngô ở ngăn lạnh, nhưng đừng lạnh quá

Cách tốt nhất để thưởng thức ngô tất nhiên là ăn ngay để có hương vị ngon nhất, tuy nhiên nếu bạn cần bảo quản ngô trong thời gian ngắn thì bạn có thể để ngô trong tủ lạnh. Không nên để ngô trong túi nilon hoặc túi giấy. Nếu được, hãy để ngô lên các ngăn cánh của tủ lạnh vì đó là nơi có nhiệt độ cao hơn một chút. Ngô sẽ bị khô và bị dính nhớt nếu để trong môi trường có nhiệt độ quá lạnh, bởi môi trường lạnh sẽ không có đủ độ ẩm để bảo quản phần nhân của hạt ngô.

Liên Hương - Viện Y học Ứng dụng Việt Nam

Những bộ phận có độc cần tránh của một số loại rau củ

Theo TS. Hồng Sơn – Viện Y học Ứng dụng Việt Nam, tận dụng tất cả các bộ phận của rau củ để cho vào chế biến là một biện pháp tránh lãng phí những dưỡng chất từ thực phẩm. Tuy nhiên, dưới đây là 7 bộ phận từ thực vật nên loại bỏ trước khi chế biến bất kỳ món ăn nào bởi chúng sẽ gây độc cho cơ thể.

Cành và mầm khoai tây

Khoai tây thuộc họ Cà là họ gồm những loài thực vật ưa bóng râm, và tất cả những loài thuộc họ này đều có chứa độc tố có tên gọi solanin. Bạn có biết rằng trong tác phẩm Macbeth rất nổi tiếng của Shakespeare, vua xứ Scotland là Macbeth đã sử dụng một loài thực vật cùng họ với khoai tây là cà độc dược để đầu độc những kẻ địch từ Đan Mạch.

Trong khoai tây, solanin tập trung phần lớn ở cành và các mầm, do vậy bạn cần lưu ý cắt bỏ hết những bộ phận này trước khi chế biến chúng. Ngoài ra, những củ khoai tây xanh cũng đặc biệt chứa hàm lượng solanin rất cao.

Lá cà chua

Cà chua, một loài có quan hệ họ hàng với khoai tây, cũng thuộc một nhánh khác của các cây họ Cà. Cà chua đã từng là loài thực vật gây nỗi sợ hãi ở châu u trong vòng hơn 200 năm sau khi được đưa từ Mỹ sang và chỉ được sử dụng với mục đích trang trí mãi cho tới những năm 1800.

Lá cà chua có chứa một lượng nhỏ solanin và tomatin có thể gây rối loạn tiêu hóa nếu ăn quá nhiều một lúc (liều tối thiểu để gây tử vong vào khoảng hơn 450 gram).

Hạt táo

Có thể bạn đã từng nghe hoặc chưa biết, trong hạt táo có chứa các chất độc cyanid. Cụ thể hơn, chúng có chứa amygdalin, một chất có thể giải phóng cyanid khi tiếp xúc với các enzyme tiêu hóa của đường ruột.

Bình thường, lớp vỏ ngoài rắn chắc của hạt táo giúp ngăn cản hiện tượng này xảy ra, trừ khi bạn nhai nát hạt táo trước khi nuốt nó vào bụng. Bạn sẽ phải tiêu thụ khoảng 200 hạt táo được nhai kỹ để có thể tạo ra một liều cyanid đủ để gây tử vong. Tuy nhiên dù thế nào đi nữa thì bạn cũng nên loại bỏ hạt táo trước khi ăn bởi đơn giản là chúng cũng có vị không hề hấp dẫn.

Quả của cây măng tây

Nếu bạn đã từng trồng măng tây, bạn sẽ để ý thấy rằng những cây cái cho ra những quả mọng màu đỏ trông rất hấp dẫn. (Hầu hết những cây được lai tạo ngày nay đều là giống đực và không có quả.) Tuy nhiên, đừng dại dột mà động vào chúng! Những quả mọng này mặc dù không tiêu diệt bạn những sẽ khiến bạn cảm thấy vô cùng khó chịu do sự hiện diện của các sapogenin, một chất độc nhẹ đối với con người và có thể gây ngộ độc cho động vật. Nếu ăn những quả mọng này, chúng sẽ khiến bạn bị nôn mửa và tiêu chảy.

Lá đại hoàng

Thân cây đại hoàng có thể được sử dụng để chế biến thành món bánh ngon lành khi kết hợp với những trái dâu thơm ngọt, tuy nhiên nếu ăn nhầm lá của loại cây này thì bạn sẽ có nguy cơ phải đi cấp cứu.

Lá cây đại hoàng có chứa acid oxalic và các anthraquinone glycoside, đây là hai hợp chất khá độc đối với con người khi được tiêu hóa. Các triệu chứng ngộ độc phụ thuộc vào lượng mà bạn đã ăn, thường là nôn mửa, đau dạ dày cho tới co giật.

Lá và hoa của cây cà tím

Cà tím là một thành viên khác của các cây họ Cà khét tiếng. Đôi khi người ta thường bị ấn tượng rằng ăn những trái cà sống có thể gây ngộ độc nhưng sự thật không phải là như vậy.

Tuy nhiên, lá và hoa của cà tím lại có khả năng khiến bạn bị ốm thật sự, nguyên nhân là do thành phần solanin thường tập trung nhiều nhất ở những bộ phận này.

Cây cơm cháy

Tất cả các bộ phận của cây cơm cháy đều có thể gây độc cho con người và động vật, nhất là rễ, lá, thân và các cành – tuy nhiên cả quả và hoa cũng chứa độc tố. Cả cây có chứa những hợp chất có thể sản sinh ra acid hydrocyanid, và có thể giải phóng cyanid.

Việc loại bỏ các hợp chất giải phóng ra cyanid được khuyến cáo khi sử dụng các bộ phận như hoa và quả cơm cháy, và bạn cũng nên tránh tất cả những phần khác của loài cây này.

Ăn quả cơm cháy chưa chín hay chưa được nấu có thể gây buồn nôn và nôn mửa, do vậy tốt nhất là bạn nên tuân theo hướng dẫn từ công thức nấu ăn thay vì tự ý chế biến theo ý mình.

Thanh Loan (ghi)

Sự thực về thực phẩm biến đổi gen

Thực phẩm GMO (biến đổi gen) thực chất là gì?

Trong thiên nhiên, vẫn xảy ra những sự kiện biến đổi gen nhằm mục đích có lợi cho tiến hóa, nhưng những sự biến đổi trong thiên nhiên rất chậm, diễn ra trong hàng nghìn năm hoặc lâu hơn. Do thực tế dân số tăng lên mà lương thực thì có nguy cơ thiếu do đó nhân loại muốn có những giống cây trồng vật nuôi có một đặc tính ưu việt nào đó có khả năng chịu hạn tốt, những cây trồng có khả năng chống chịu sâu bệnh cao nhằm làm tăng năng suất mùa màng, từ đó thúc đẩy nghiên cứu chế tạo ra loại thực phẩm này, người ta còn sử dụng thực phẩm chuyển gen nhằm tạo ra những thực phẩm có một đặc tính dinh dưỡng ưu việt nào đó. Hoặc cũng có khi là nhằm tổng hợp ra các chế phẩm sinh học hay các thuốc dùng trong điều trị bệnh

Thuật ngữ thực phẩm biến đổi gen ban đầu dùng để chỉ những loại cây trồng dành cho con người hoặc gia súc được tạo ra nhờ công nghệ sinh học để cho những phẩm chất mong muốn như tăng khả năng chống cỏ dại, chống sâu bệnh hay tăng hàm lượng dưỡng chất. Việc nâng cao chất lượng giống cây trồng thường được thực hiện nhờ phương pháp nhân giống, song phương pháp này tốn nhiều thời gian lại cho kết quả không chính xác.

Thực phẩm biến đỏi gen

Biến đổi gen là một thành tựu của nền khoa học thế giới từ đầu những năm 1980, chứ không phải là mới xuất hiện gần đây. Kỹ thuật biến đổi gen có thể tạo ra giống cây trồng như mong muốn, tốn ít thời gian và có độ chính xác cao.

Trong kỹ thuật biến đổi này, người ta có thể thêm hoặc bỏ bớt gen. Nếu thêm gen vào một sinh vật nào đó, người ta thường chọn gen từ loài khác. Để làm được việc đó người ta có thể gắn gen ngoại lai vào một virus rồi đưa vào tế bào vật chủ, hoặc đưa ADN ngoại lai vào nhân của tế bào bằng ống tiêm. Một số chủng vi khuẩn cũng có thể chuyển gen vào tế bào và giới khoa học đã tận dụng chúng để tạo ra GMC (cây trồng biến đổi gen)

Về mặt nguyên tắc, người ta chỉ làm các biến đổi gen mang tính có lợi. Nghĩa là chỉ tiến hành biến đổi ở những gen không liên quan gì đến thành phần giá trị dinh dưỡng của thực phẩm, hoặc nếu có thì sẽ làm động tác theo hướng tăng cường hàm lượng mà không làm thay đổi theo chiều hướng ngược lại. Do đó, giá trị dinh dưỡng của thành phẩm không hề bị suy giảm cho nên bên cạnh việc cung cấp dinh dưỡng thì thực phẩm biến đổi gen còn cho chúng ta những vụ mùa bội thu, những vụ mùa tồn tại ngay cả ở trong điều kiện sâu bệnh và khí hậu khắc nghiệt

Cho đến nay, đã có nhiều nước ứng dụng công nghệ biến đổi gen vào cho cây trồng, đặc biệt là Mỹ, Trung quốc, Ấn độ…. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tính đến năm 2010 Mỹ có khoảng 66,8 triệu hecta trồng GMO, chiếm 16,56% diện tích đất nông nghiệp. Các loại cây trồng chính là đậu nành, bắp, bông, cải dầu, bí, đu đủ, cỏ linh lăng và củ cải đường. Hiệp hội các nhà sản xuất hàng tạp hóa Mỹ (GMA) ước tính 70-75% thực phẩm chế biến tại Mỹ chứa nguyên liệu biến đổi gen. Châu u không trồng nhiều GMO với ngoại lệ là Tây Ban Nha có 25% sản lượng bắp biến đổi gen.

Sau 14 năm trồng trọt và tiêu thụ GMO, các nhà khoa học vẫn chưa phát hiện những tác động nguy hại của GMO. Dù vậy, nhiều tổ chức phi chính phủ như Hòa bình xanh, Dự án không GMO hay Hiệp hội Người tiêu dùng hữu cơ (OCA), Những người bạn của Trái đất (FoE)... cho rằng giới khoa học vẫn chưa nghiên cứu và xác định rõ các nguy cơ của GMO.

Thực phẩm biến đổi gen chủ yếu là những loại nào? (Thịt, rau củ, hoa quả...?)

Diện tích canh tác cây trồng biến đổi gen trên toàn cầu đã tăng từ 1,7 triệu ha năm 1996 lên hơn 175 triệu ha trong năm 2013. Theo báo cáo của Tổ chức quốc tế về tiếp thu các ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp (ISAAA) vào tháng 2 năm 2014 năm 2013 đã có trên 18 triệu nông dân ở 27 nước trồng cây biến đổi gen, tăng 5 triệu ha, tương đương 3% diện tích canh tác cây trồng biến đổi gen. Năm 2013 cũng đánh dấu việc đưa vào canh tác đại trà lần đầu tiên đối với ngô chịu hạn tại Hoa Kỳ.

Cây thuốc lá biến đổi gen là GMC đầu tiên được trồng thử nghiệm trên đồng ruộng. Các nhà khoa học gây biến đổi gene ở cây thuốc lá để chúng kháng thuốc diệt cỏ, rồi trồng thử nghiệm tại Mỹ và Pháp vào năm 1986. Một thập kỷ sau đó cây trồng biến đổi gen bắt đầu được trồng đại trà với mục đích thương mại.

Ngày nay, các thực phẩm biến đổi gen phổ biến nhất là các loại cây trồng thực vật, ví dụ như đậu nành, khoai tây, củ cải đỏ, củ sắn, đu đủ, ngô, khoai tây, cà chua, bí đỏ hoặc một số loại thực vật khác.

Các cây trồng này được biến đổi gen nhằm mục đích chủ yếu là để cải thiện năng suất, tăng sức đề kháng với sâu bệnh hoặc tăng khả năng chịu đựng với các loại thuốc diệt cỏ. Ngoài ra, các loại cây trồng được biến đổi gen có thể nhằm mục đích để thu được màu sắc cây trồng đẹp hơn, vòng đời lâu hơn hoặc để tạo ra những thực vật không hạt như dưa dấu và nho.

Một số loại thực vật biến đổi gen cũng chứa hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn như protein, canxi và folate.

Các loại rau củ quả biến đổi gen có gây hại cho người sử dụng không?

Theo Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA), các loại thực phẩm từ thực vật biến đổi gen cần phải đáp ứng quy định an toàn như các loại thực phẩm không biến đổi gen.

Những loại sinh vật biến đổi gen khác nhau sẽ bao gồm các loại gen khác nhau và được đưa vào bằng nhiều cách khác nhau. Điều này có nghĩa là, để đánh giá mức độ an toàn của thực phẩm biến đổi gen cần được đánh giá đối với từng loài cụ thể và không thể đưa ra được một khẳng định chung về tất cả các loại thực phẩm biến đổi gen có an toàn hay không.

Có khoảng 600 nghiên cứu tập trung vào thực phẩm biến đổi gen, xem xét đến calo, đạm, chất béo và vitamin. Phần lớn các nghiên cứu được tài trợ bởi ngành công nghiệp thực phẩm cho thấy thực phẩm biến đổi gen có giá trị dinh dưỡng bằng với thực phẩm hữu cơ. Tuy nhiên các nghiên cứu đó gần như không đề cập đến tính an toàn cho sức khỏe con người.

Hiện tại, vẫn chưa có chứng cứ khoa học nào khẳng định sử dụng thực phẩm biến đổi gen có hại cho sức khỏe. Những hậu quả về mặt sức khỏe khi ăn các loại động vật đã trải qua biến đổi gen vẫn còn là một bí ẩn lớn. Trên thế giới cũng chia ra các luồng quan điểm khác nhau. Theo WHO, những thực phẩm biến đổi gen trên thị trường quốc tế hiện nay phải trải qua giai đoạn đánh giá an toàn rất nghiêm ngặt và thường sẽ không gây ra nguy cơ gì với sức khỏe con người. Tại các quốc gia chấp nhận sử dụng thực phẩm biến đổi gen, cũng chưa quan sát được ảnh hưởng nào lên sức khỏe con người do tiêu thụ thực phẩm biến đổi gen cả. Tuy nhiên nhóm không ủng hộ thực phẩm biến đổi gen đưa ra các quan điểm rằng sử dụng thực phẩm GMO lâu dài sẽ gây dị ứng, kháng kháng sinh, thậm chí gây ung thư.

Dị ứng: Theo Trung tâm thống kê y tế quốc gia Hoa Kỳ, tình trạng dị ứng thực phẩm ở trẻ em dưới 18 tuổi đã tăng từ 3,4% vào năm 1997 – 1999 lên tới 5,1% vào năm 2009-2011.

Chưa có những bằng chứng khoa học cụ thể đề cập rằng tình trạng dị ứng thực phẩm có liên quan tới thực phẩm biến đổi gen, tuy nhiên cần thêm những nghiên cứu để làm sáng tỏ mối quan hệ trên. Theo đánh giá của FAO và WHO về khả năng gây dị ứng của các loại thực phẩm biến đổi gen trên thị trường thì hiện nay, chưa tìm thấy một phản ứng dị ứng nào có liên quan đến thực phẩm biến đổi gen.

Kháng kháng sinh:Do các loại gen kháng kháng sinh được sử dụng để đưa vào các giống ngô và đậu nành (nhằm mục đích nông nghiệp) nên có những mối lo ngại rằng đây có thể liên quan đến tình trạng kháng kháng sinh trên người. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nghiên cứu xác nhận điều này.

Ung thư và những mối quan ngại khác:Vào năm 2013, tạp chí Food and Chemical Toxicology đã rút lại một bài báo với nội dung rằng ngô biến đổi gen và thuốc diệt cỏ Roundup là nguyên nhân gây ung thư và chết non trên mô hình chuột, và cho rằng kết quả của bài báo là chưa thuyết phục. Tổng biên tập của tạp chí cũng nói rằng nghiên cứu này sử dụng quá ít chuột thí nghiệm và giống chuột được sử dụng này lại rất nhạy cảm với bệnh ung thư.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO), Cục quản lý Dược Phẩm và Thực Phẩm Hoa Kỳ (FDA)... đã thiết lập ra các hệ thống quy chuẩn để đánh giá và quản lý an toàn của thực phẩm biến đổi gen. Mọi thực phẩm biến đổi gen đều phải được chứng nhận không có nguy cơ về sức khỏe với con người dựa trên Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế (Codex) thiết lập bởi WHO mới được đưa ra thương mại hóa.

An toàn của cây trồng biến đổi gen đã được khẳng định bởi nhiều tổ chức khác bao gồm Hiệp hội Y khoa Mỹ, Hiệp hội độc chất học, Viện Khoa học sự sống Quốc tế, Viện Khoa học hàn lâm Hoa Kỳ, Hiệp hội Hoàng gia Vương quốc Anh, Tổ chức Y tế thế giới, Viện Công nghệ thực phẩm, Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc, Cơ quan An toàn thực phẩm châu u và Ủy ban Liên minh châu u.

Kể từ khi cây trồng biến đổi được thương mại lần đầu tiên vào năm 1996 (1996-2012), các cơ quan quản lý thuộc 59 quốc gia đã tiến hành đánh giá khoa học mở rộng và khẳng định sự an toàn của cây trồng GM với 2.497 phê duyệt đối với 319 tính trạng biến đổi gen khác nhau trên 25 đối tượng cây trồng.

Các rau củ quả biến đổi gen do kết hợp với gen động vật, thì có còn được xem là thực phẩm chay nữa hay không? Có tác động gì tới người sử dụng?

Hiện nay, đã có một số thử nghiệm về việc biến đổi gen của rau củ quả do kết hợp với gen động vật. Ví dụ, cà chua được cấy gen chống đông lạnh từ cá hồi sẽ có khả năng chống chịu với nhiệt độ thấp tốt hơn. Ngoài ra, cũng có rất nhiều thử nghiệm tương tự khác, ví dụ như lúa mì được cấy ghép gen của gà hay đậu nành được cấy ghép gen của chuột…Tất cả đều nhằm mục đích nông nghiệp.

Về bản chất, những loại thực phẩm này vẫn là thực vật. Còn việc có coi những thực phẩm này có phải là thực phẩm chay hay không sẽ phụ thuộc vào từng cá nhân. Bởi có rất nhiều lý do khiến một người chọn chế độ ăn chay, đa phần là các lý do cá nhân: họ muốn có một chế độ ăn tốt cho sức khỏe hơn, lý do về tôn giáo, về môi trường, về quyền động vật…

Cũng có nhiều trường phái ăn chay khác nhau, có những người sẽ hoàn toàn không tiêu thụ thịt, cá và các sản phẩm liên quan đến động vật (ví dụ như trứng, sữa và mật ong), nhưng có những người ăn chay vẫn tiêu thụ trứng, sữa, mật ong và thậm chí là cả cá. Do vậy, không có một định nghĩa chính xác nào về ăn chay cả. Chỉ cần những người ăn chay cảm thấy thoải mái về thực phẩm mà họ tiêu thụ và những thực phẩm đó phù hợp với niềm tin, tín ngưỡng của họ, thì những người ăn chay cũng vẫn có thể tiêu thụ các loại rau củ quả có chứa gen của động vật, và coi đó như các loại rau củ quả thông thường.

Về tính an toàn, vì những loại rau củ quả này cũng là thực phẩm biến đổi gen, nên vẫn chưa thể đưa ra kết luận về tính an toàn được. Cần phải tiến hành nghiên cứu trên từng loại rau củ quả cụ thể, với từng loại gen cụ thể trong thời gian dài mới có thể đưa ra kết luận về việc liệu một loại cây trồng biến đổi gen có an toàn hay không.

Cách thức sử dụng GMO để đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng? Những lưu ý cần có khi chế biến và sử dụng các thực phẩm GMO?

Hiện nay, Việt Nam cũng đang thực hiện theo quy định quốc tế, tức là nếu sản phẩm nào có quá 5% thành phần là từ nguyên liệu biến đổi gen, thì phải dán nhãn thực phẩm biến đổi gen. Việc dán nhãn giúp người tiêu dùng nhận biết sản phẩm có biến đổi gen, chứ không liên quan đến vấn đề an toàn hay không. Do vậy, người tiêu dùng hoàn toàn có quyền lựa chọn việc có sử dụng thực phẩm biến đổi gen hay không. Còn về mặt an toàn, như đã nói, vẫn chưa đủ bằng chứng để đưa ra kết luận rằng, thực phẩm biến đổi gen có an toàn với sức khỏe con người hay không. Quyết định có sử dụng hay không phụ thuộc hoàn toàn vào người tiêu dùng. Không nên quá lo lắng về thực phẩm biến đổi gen, bởi mặc dù chúng không tự nhiên, nhưng không phải cái gì tự nhiên cũng tốt và cũng không phải cái gì trái tự nhiên cũng không tốt.

Tuy nhiên, nếu đã quyết định sử dụng, cũng cần đảm bảo các quy định an toàn về chế biến, đun nấu thực phẩm biến đổi gen như những thực phẩm thông thường:

Chọn những thực phẩm biến đổi gen có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, đọc kỹ các thông tin về ngày sản xuất, hạn sử dụng…Khi chế biến, không để lẫn thực phẩm sống và chínSử dụng nước sạch để sơ chế, chế biến thực phẩmLuôn giữ tay sạch sẽ trước, trong và sau khi chế biến thực phẩmNấu chín kỹ những loại thực phẩm nàyĂn ngay khi thức ăn vừa nấu chínThức ăn đã nấu chín nếu không ăn hết cần được bảo quản cẩn thận, tránh sự xâm nhập của các loài côn trùng, gặm nhấm hoặc các loài động vật khácĐun kĩ lại thực phẩm trước khi ăn. Tuyệt đối không sử dụng thực phẩm ôi thiu mốc hỏng, quá hạn sử dụngGiữ bề mặt chế biến, bàn bếp luôn khô ráo, sạch sẽ.

TS.BS. Trương Hồng Sơn - Viện Y học Ứng dụng Việt Nam